Thời gian qua, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận quan trọng về rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản còn chồng chéo, bất cập, chưa phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ; luật chỉ quy định những vấn đề khung, những vấn đề có tính nguyên tắc thuộc thẩm quyền của Quốc hội, còn những vấn đề thực tiễn thường xuyên biến động thì giao Chính phủ, Bộ, ngành, địa phương quy định để bảo đảm linh hoạt, phù hợp với thực tiễn. Bên cạnh đó, sau 13 năm triển khai thi hành, Luật Xử lý vi phạm hành chính đã nhận diện rõ những hạn chế, bất cập; cùng với tình hình vi phạm hành chính, sự phát triển của kinh tế - xã hội hiện nay đã đặt ra yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung toàn diện Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Ngày 08/9/2026, Chính phủ có Tờ trình số 665/TTr-CP trình Quốc hội về dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi). Dự án Luật đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp và các vị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách cho ý kiến. Trên cơ sở ý kiến của các cơ quan, đại biểu nêu trên, Chính phủ đã tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự án Luật và có Tờ trình số 879/TTr-CP ngày 10/10/2026 trình Quốc hội về dự án Luật.
Dự thảo Luật hiện tại đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung quan trọng, trong đó có một số nội dung được đại biểu Quốc hội quan tâm, còn ý kiến khác nhau, cụ thể như sau:
1. Về việc không quy định cụ thể tại dự thảo Luật về cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
Ý kiến khác:
Việc không quy định cụ thể tại dự thảo Luật về các cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính sẽ dẫn đến không rõ đầu mối chịu trách nhiệm chính thực hiện nhiệm vụ này, không phù hợp với nguyên tắc quy định chi tiết ngay trong luật, pháp lệnh, nghị quyết và xác định cụ thể tên bộ, ngành, cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm chính đối với các nội dung liên quan đến quyền con người, quyền công dân, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, trình tự tố tụng, thực hiện các khuyến nghị, cam kết, thỏa thuận quốc tế hoặc vấn đề khác được xác định là cơ bản, quan trọng thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội.
Ý kiến giải trình, làm rõ:
a) Về cơ sở chính trị:
Việc không quy định cụ thể trong dự thảo Luật cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Theo đó, Luật chỉ quy định những vấn đề có tính ổn định, lâu dài, liên quan đến quyền con người, quyền công dân và các nguyên tắc, chính sách lớn; đối với các nội dung mang tính kỹ thuật, quy trình, tổ chức thực hiện hoặc có tính biến động cao thì giao Chính phủ quy định chi tiết nhằm bảo đảm tính linh hoạt trong tổ chức thi hành.
b) Về cơ sở pháp lý:
- Khoản 3 Điều 96 Hiến pháp quy định Chính phủ thống nhất quản lý về các lĩnh vực, trong đó có quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; khoản 5 Điều 96 Hiến pháp quy định Chính phủ thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia và lãnh đạo công tác của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp. Đây là cơ sở hiến định để làm rõ thẩm quyền của Chính phủ trong việc phân công, phân định nhiệm vụ giữa các bộ, cơ quan ngang bộ trong thực hiện quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
- Luật Tổ chức Chính phủ quy định nguyên tắc phân định thẩm quyền, tại khoản 4 Điều 6 Luật này quy định “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực; thực hiện phân công phạm vi quản lý nhà nước cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ”.
Như vậy, việc phân công cơ quan nào trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của Chính phủ. Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất; Luật Tổ chức Chính phủ là luật gốc của nền hành chính nhà nước, cần được quán triệt và thực hiện thống nhất, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương.
Tại Văn bản số 229/UBTVQH16-PLTP ngày 03/9/2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Văn bản số 9406/VPCP-TCCV ngày 15/9/2026 của Văn phòng Chính phủ nêu: “Tuân thủ nguyên tắc quy định chi tiết ngay trong luật, pháp lệnh, nghị quyết và xác định cụ thể tên Bộ, ngành, cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm chính đối với các nội dung liên quan đến quyền con người, quyền công dân, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, trình tự tố tụng, thực hiện các khuyến nghị, cam kết, thỏa thuận quốc tế hoặc vấn đề khác được xác định là cơ bản, quan trọng thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội”.
Cơ quan soạn thảo thấy rằng, việc phân công cơ quan nào thuộc Chính phủ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính không ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, trình tự tố tụng, thực hiện các khuyến nghị, cam kết, thỏa thuận quốc tế hoặc vấn đề khác được xác định là cơ bản, quan trọng thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội. Do đó, việc không quy định cụ thể trong dự thảo Luật cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện nhiệm vụ này không trái với nội dung của Văn bản số 229/UBTVQH16-PLTP và Văn bản số 9406/VPCP-TCCV.
c) Về cơ sở thực tiễn:
Vừa qua, Chính phủ đã sắp xếp, điều chỉnh, phân định một số nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan thuộc Chính phủ trong công tác quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực để phù hợp tình hình thực tiễn. Nhiều trường hợp cùng một lĩnh vực quản lý nhà nước nhưng Chính phủ giao một số cơ quan cùng thực hiện công tác quản lý nhà nước để phù hợp tình hình thực tiễn. Nếu quy định cụ thể trong dự thảo Luật về cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính sẽ không bảo đảm tính linh hoạt do Quốc hội sẽ phải sửa đổi Luật khi Chính phủ điều chỉnh sự phân công giữa các cơ quan trong việc thực hiện nhiệm vụ này.
d) Qua rà soát, nhiều luật mới ban hành trong thời gian gần đây không quy định cụ thể tên cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện công tác quản lý nhà nước:
- Luật Viên chức năm 2025: điểm a khoản 2 Điều 39 quy định: “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về viên chức và phân công, phân cấp cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về viên chức”. Việc phân công cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về viên chức (Bộ Nội vụ) được quy định tại Điều 56 Nghị định số 259/2026/NĐ-CP quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức.
- Luật Cán bộ, công chức năm 2025: khoản 2 Điều 41 quy định: “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công chức” mà không quy định cụ thể cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện nhiệm vụ này.
- Luật Thương mại điện tử năm 2025: khoản 2 Điều 7 quy định: “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thương mại điện tử”. Theo đó, việc phân công cơ quan đầu mối tham mưu, giúp Chính phủ quản lý nhà nước về thương mại điện tử (Bộ Công Thương) được quy định tại khoản 1 Điều 49 Nghị định số 248/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Thương mại điện tử.
- Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2026: khoản 1 Điều 32 quy định: “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở trong phạm vi cả nước” và không quy định cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở.
- Luật Dầu khí năm 2026 chỉ quy định “cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí” mà không quy định cụ thể tên cơ quan này.
- Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022 được sửa đổi, bổ sung năm 2026: tại điểm a khoản 2 Điều 89 quy định trách nhiệm của Chính phủ “thống nhất quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng”.
Như vậy, việc không quy định cụ thể trong dự thảo Luật về cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính là cần thiết, có cơ sở chính trị, pháp lý, thực tiễn rõ ràng. Trong quá trình xây dựng Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật, Chính phủ sẽ phân công, phân định cụ thể nhiệm vụ giữa các cơ quan trong việc thực hiện nội dung này, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, phù hợp tình hình thực tiễn.
2. Về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính
Ý kiến khác:
Đề nghị cân nhắc việc nâng thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính (từ 01 năm đến 02 năm theo Luật hiện hành lên 01 đến 03 năm để bảo đảm phù hợp với nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính đã được quy định tại khoản 1 Điều 3 của dự thảo Luật là “Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời” và “Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng”. Việc nâng thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính tuy sẽ tạo điều kiện để các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thêm thời gian để phát hiện và xử lý triệt để các hành vi vi phạm hành chính nhưng cần được tiếp tục rà soát, có sự phân hóa cụ thể đối với những lĩnh vực được phép kéo dài thời hiệu xử phạt để bảo đảm việc ngăn chặn kịp thời, hạn chế thấp nhất việc gây hậu cho người dân, xã hội.
Ý kiến tiếp thu, giải trình, làm rõ:
Dự thảo Luật đã nâng thời hiệu xử phạt tối đa từ 02 năm lên 03 năm, đồng thời nâng thời hiệu xử phạt lên 02 năm hoặc 03 năm đối với một số lĩnh vực nhằm bảo đảm nguyên tắc mọi vi phạm hành chính phải bị xử lý nghiêm minh; đồng thời nâng cao tính răn đe, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa vi phạm pháp luật và ý thức tự giác chấp hành pháp luật của các cá nhân, tổ chức. Bên cạnh đó, việc nâng thời hiệu chỉ áp dụng đối với một số lĩnh vực xảy ra nhiều hành vi phạm phức tạp, tác động lớn đến trật tự xã hội, cần nhiều thời gian để xác minh, phân tích kiểm định, giám định như: an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; bảo vệ môi trường; khoáng sản.
Cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, cơ quan có liên quan rà soát, đánh giá kỹ lưỡng để đề xuất thời hiệu xử phạt phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực.
3. Về mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính
Ý kiến khác:
Việc nâng mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính từ 01 tỷ đồng lên 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân, từ 02 tỷ đồng lên 03 tỷ đồng đối với tổ chức là khá cao (tăng 1,5 lần). Nếu mức phạt tiền quá cao, vượt quá khả năng tài chính thực tế của đa số cá nhân và nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể dẫn đến tình trạng trốn tránh việc thực hiện, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của việc xử phạt nói riêng và thi hành pháp luật nói chung. Đồng thời, việc tăng mức phạt lên quá cao so với tốc độ tăng trưởng thu nhập hay khả năng chi trả của người dân, doanh nghiệp, có thể ảnh hưởng hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức và đời sống của người dân, dễ tạo ra những ý kiến, quan điểm trái chiều nên cần được tính toán, đánh giá tác động kỹ lưỡng về nhiều mặt.
Bên cạnh phương án tăng mức phạt tiền thì cần xem xét giải pháp áp dụng triệt để các biện pháp khắc phục hậu quả (như: buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu, buộc phá dỡ công trình không đúng quy định, buộc nộp lại số lợi bất chính có được do thực hiện vi phạm…) và hình thức phạt bổ sung (tước quyền sử dụng giấy phép, đình chỉ hoạt động…).
Ý kiến tiếp thu, giải trình, làm rõ:
Dự thảo Luật đã nâng mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính từ 01 tỷ đồng lên 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân, từ 02 tỷ đồng lên 03 tỷ đồng đối với tổ chức; đồng thời nâng mức phạt tiền tối đa đối với một số lĩnh vực. Việc nâng mức phạt tiền để phù hợp với mức tăng lương cơ sở, thu nhập bình quân đầu người, sự phát triển của kinh tế - xã hội, bảo đảm tính răn đe, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm trong các lĩnh vực như: bảo vệ môi trường; an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; khám bệnh, chữa bệnh. Cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, cơ quan có liên quan rà soát, đánh giá kỹ lưỡng để đề xuất mức phạt tiền tối đa phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực.
Quá trình xây dựng các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực, Chính phủ sẽ rà soát, nghiên cứu kỹ lưỡng để áp dụng các hình thức xử phạt khác (như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính) và các biện pháp khắc phục hậu quả phù hợp với tính chất, mức độ của từng hành vi vi phạm và tình hình thực tiễn chứ không chỉ áp dụng hình phạt tiền.
3. Về việc bổ sung các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Ý kiến khác:
Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là biện pháp cưỡng chế nhà nước, có tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức nên việc bổ sung các biện pháp cưỡng chế cần quán triệt đầy đủ các chủ trương, định hướng của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng trong đó có nội dung về “bảo đảm và bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân...” và cần được quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, điều kiện và thời hạn áp dụng, đồng thời phải có đánh giá tác động thật đầy đủ, kỹ lưỡng để bảo đảm tính thuyết phục và tạo sự đồng thuận cao.
Ý kiến làm rõ:
a) Qua tổng kết thực tiễn thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính cho thấy, hiện nay pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mới chỉ có 05 biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; trong đó có 04 biện pháp là để cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt có hình thức xử phạt tiền và biện pháp cuối cùng là để cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt có biện pháp khắc phục hậu quả.
Tuy nhiên, trên thực tế còn một số hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn, đình chỉ hoạt động có thời hạn… và thi hành biện pháp khắc phục hậu quả chưa có cơ chế cưỡng chế cụ thể khi người vi phạm không tự nguyện chấp hành. Việc thiếu các biện pháp bảo đảm cưỡng chế thi hành trên thực tế dẫn đến tình trạng quyết định xử phạt vi phạm hành chính không được thi hành hoặc thi hành không đầy đủ, nhất là đối với các cá nhân, tổ chức cố tình chây ỳ, né tránh nghĩa vụ chấp hành.
b) Dự thảo Luật đã bổ sung các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt mới, gồm:
- Tạm hoãn xuất cảnh đối với cá nhân, người đứng đầu tổ chức chưa chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Trên thực tiễn, không ít trường hợp cá nhân vi phạm hoặc người đại diện, người đứng đầu tổ chức lợi dụng việc xuất cảnh để trì hoãn, né tránh nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt, gây khó khăn cho công tác tổ chức thi hành và thu hồi tiền phạt. Do đó, việc bổ sung biện pháp này nhằm ngăn ngừa hành vi trốn tránh nghĩa vụ, bảo đảm đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành.
- Niêm phong trụ sở, địa điểm, cơ sở hoặc bộ phận cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Việc bổ sung biện pháp niêm phong trụ sở, địa điểm hoặc bộ phận cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm tạo cơ chế áp dụng trong trường hợp tổ chức, cá nhân vi phạm không chấp hành biện pháp xử phạt bổ sung như đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc biện pháp khắc phục hậu quả như buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh.
- Yêu cầu ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước đối với công trình, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Việc bổ sung biện pháp ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước nhằm tạo cơ chế áp dụng trong trường hợp tổ chức, cá nhân vi phạm không chấp hành hình thức xử phạt bổ sung như đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc biện pháp khắc phục hậu quả như buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; buộc phá dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép; qua đó tạo tính răn đe cao, buộc tổ chức, cá nhân phải chấp hành nghiêm túc các quy định pháp luật, qua đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và bảo đảm việc thi hành quyết định xử phạt được thực hiện nghiêm túc, đúng thời hạn.
- Tạm dừng đăng kiểm; tạm dừng đăng ký xe; tạm dừng cấp giấy phép lái xe.
Việc bổ sung biện pháp này nhằm tạo cơ chế áp dụng trong trường hợp tổ chức, cá nhân vi phạm không chấp hành biện pháp xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn, bảo đảm gắn nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt với quyền tham gia giao thông, qua đó nâng cao tính răn đe, phòng ngừa vi phạm tái diễn và góp phần bảo đảm trật tự, an toàn giao thông.
- Yêu cầu ngừng cung cấp dịch vụ Internet, dịch vụ viễn thông, hạ tầng số hoặc thực hiện biện pháp ngăn chặn kỹ thuật, chặn truy cập đối với tổ chức, cá nhân không chấp hành hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hoạt động có thời hạn, biện pháp khắc phục hậu quả trên môi trường điện tử theo quy định của pháp luật.
Việc bổ sung biện pháp cưỡng chế này nhằm bảo đảm cưỡng chế đối với tổ chức, cá nhân không chấp hành hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả trên môi trường điện tử.
c) Quá trình xây dựng dự án Luật, cơ quan soạn thảo đã đánh giá tác động kỹ lưỡng, toàn diện về việc bổ sung các biện pháp cưỡng chế nêu trên. Dự thảo Luật cũng đã quy định chặt chẽ về nguyên tắc, điều kiện áp dụng các biện pháp này, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, không làm ảnh hưởng đến cá nhân, tổ chức không liên quan đến hành vi vi phạm, phù hợp với thực tiễn.
Xem chi tiết văn bản tại đây hoặc File đính kèm./.
Tác giả: Hải Yến
Ý kiến bạn đọc
Công an tỉnh Vĩnh Long Thông báo tuyển sinh đào tạo đại học Văn bằng 2 (VB2CA) chính quy tuyển mới trong Công an nhân dân năm 2026
Khởi tố, bắt tạm giam đối tượng chống người thi hành công vụ và gây rối trật tự công cộng
Vĩnh Long: 73 chiến sĩ nghĩa vụ tham gia CAND được chuyển sang chế độ phục vụ chuyên nghiệp
Lời ăn năn, hối hận sau phiên xét xử
Tuyên án bị cáo lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
Khởi tố, bắt tạm giam đối tượng lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
Thi hành hành lệnh bắt và khám xét nơi ở của đối tượng “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”
Công an tỉnh Vĩnh Long tổ chức Lễ công bố quyết định thăng cấp bậc hàm đợt I năm 2026
Tạm giữ hình sự người điều khiển xe ô tô tông hai người đang dừng chờ đèn đỏ tử vong
Đại tá Trần Quốc Phục dự Lễ khánh thành Chánh điện và Kiết giới Si Ma chùa Sleng Cũ, xã Tập Sơn, tỉnh Vĩnh Long