Sự cần thiết ban hành Luật bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia

Thứ sáu - 06/11/2026 10:08

Trong bối cảnh sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, tình hình an ninh quốc gia đặt ra nhiều yêu cầu mới thì việc xây dựng Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia là yêu cầu cấp thiết.

Dự án Luật nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Chiến lược An ninh quốc gia; hoàn thiện hành lang pháp lý, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, thống nhất với hệ thống pháp luật và các điều ước quốc tế có liên quan. Đồng thời, khắc phục những hạn chế, bất cập của Pháp lệnh năm 2007, nâng cao hiệu quả bảo vệ các công trình trọng yếu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Về nội dung cơ bản của dự thảo Luật, Dự án Luật được xây dựng trên cơ sở 04 chính sách đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 213/NQ-CP ngày 06/8/2026, bảo đảm trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo Luật trình Quốc hội gồm 41 điều, được chia thành 7 chương. Dự thảo Luật thay đổi toàn diện cách tiếp cận so với Pháp lệnh Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia năm 2007.

Về phân loại công trình, Dự thảo Luật quy định công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia gồm 03 nhóm: (1) Công trình trọng điểm về an ninh quốc gia; (2) Công trình an ninh, khu an ninh; (3) Công trình quan trọng khác liên quan đến an ninh quốc gia. Đồng thời, quy định tiêu chí xác định, phân loại đối với từng nhóm công trình. Trong đó, đối với công trình quan trọng khác liên quan đến an ninh quốc gia được phân thành 03 loại theo tính chất quan trọng và yêu cầu bảo vệ; phân cấp thẩm quyền quyết định đưa vào Danh mục công trình liên quan đến an ninh quốc gia cho Thủ tướng Chính phủ (đối với công trình loại I), Bộ trưởng Bộ Công an (đối với công trình loại II), Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (đối với công trình loại III).

hình minh họaLBVCT

Hình minh họa (nguồn internet)

Đây là các quy định hoàn toàn mới so với Pháp lệnh năm 2007. Việc bổ sung các quy định này nhằm khắc phục triệt để các vấn đề bất cập trong thực tiễn thực hiện công tác bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, trong đó, đã bổ sung quy định về bảo vệ công trình an ninh, khu an ninh là các công trình trực tiếp phục vụ hoạt động thường xuyên của lực lượng Công an nhân dân trong bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đồng thời, bảo đảm phân cấp, phân quyền tối đa trong xây dựng pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW. 

Về các biện pháp bảo vệ, đối với công trình trọng điểm về an ninh quốc gia và công trình quan trọng khác liên quan đến an ninh quốc gia, dự thảo Luật quy định theo hướng dẫn chiếu đến quy định của pháp luật chuyên ngành. Đối với công trình an ninh, khu an ninh, dự thảo Luật quy định việc xác định phạm vi bảo vệ và biện pháp bảo vệ trên cơ sở tham khảo và bảo đảm tương đồng với quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự.

Đây là các quy định hoàn toàn mới so với Pháp lệnh năm 2007. Việc quy định các biện pháp, công tác được áp dụng để bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia theo hướng dẫn chiếu đến quy định của pháp luật chuyên ngành vẫn bảo đảm cơ sở để các cơ quan có trách nhiệm triển khai, áp dụng thống nhất, đồng bộ trên toàn quốc, vừa góp phần tăng cường hiệu quả bảo vệ công trình, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Việc quy định theo hướng này cũng đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, không chỉ tập trung vào các biện pháp bảo vệ vật lý đơn thuần mà bao gồm cả các biện pháp khoa học công nghệ hiện đại được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành, kịp thời cập nhật, bổ sung khi các biện pháp bảo vệ được nâng cấp, điều chỉnh.

Về lực lượng bảo vệ, Dự thảo Luật quy định lực lượng bảo vệ của Bộ Công an, lực lượng bảo vệ của cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng công trình; không quy định về lực lượng của Bộ Quốc phòng vì đã được điều chỉnh tại Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự. Đồng thời, quy định về quan hệ phối hợp giữa các lực lượng bảo vệ, trong đó có trách nhiệm phối hợp của lực lượng bảo vệ của quan, tổ chức quản lý, sử dụng công trình với các lực lượng Công an, Quân đội và các lực lượng khác có liên quan. 

Đây là những nội dung thay đổi cơ bản so với Pháp lệnh năm 2007, nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật và thực hiện nguyên tắc “5 rõ: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả”; qua đó khắc phục tình trạng chồng chéo hoặc bỏ trống lĩnh vực trong quá trình phân công, thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Bên cạnh đó, dự thảo Luật lược bỏ các quy định cụ thể về trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương trong quản lý nhà nước về bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, thay vào đó giao Chính phủ quy định chi tiết. Cách tiếp cận này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW, theo đó Luật chỉ quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc, có tính ổn định thuộc thẩm quyền của Quốc hội; những nội dung cụ thể, thường xuyên biến động theo thực tiễn được giao Chính phủ quy định, bảo đảm tính linh hoạt, kịp thời và phù hợp trong tổ chức thực hiện.

Tác giả: Thanh Trúc

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập61
  • Máy chủ tìm kiếm5
  • Khách viếng thăm56
  • Hôm nay514
  • Tháng hiện tại373,962
  • Tổng lượt truy cập15,373,270
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây