Ngày 26/11/2025, Quốc hội thông qua Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025, Luật số 101/2025/QH15.
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT
1. Cơ sở chính trị và pháp lý
Luật Tương trợ tư pháp được Quốc hội khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 2 ngày 21/11/2007, có hiệu lực kể từ 01/7/2008 (Luật TTTP). Tính đến nay, Luật đã được thực thi trong 16 năm. Luật gồm 7 chương với 72 điều quy định nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện TTTP về dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việt Nam trong TTTP.
Tuy vậy, cùng với những yêu cầu mới phát sinh của quá trình hội nhập quốc tế, yêu cầu việc hoàn thiện pháp luật, cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sau 16 năm triển khai thực hiện Luật TTTP đã bộc lộ những hạn chế bất cập cần được tháo gỡ, giải quyết. Chính vì vậy, thực tiễn công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đặt ra yêu cầu cần thiết là phải xây dựng Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm đẩy mạnh chiến lược hoàn thiện pháp luật, cải cách tư pháp và tăng cường hội nhập quốc tế nói chung cũng như lĩnh vực chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù nói riêng. Mới đây là Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, trong đó xác định một trong những định hướng chủ yếu của hội nhập quốc tế là tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác quốc tế trong lĩnh vực xây dựng và thực thi pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp… tăng cường tính tương thích giữa các cam kết, thỏa thuận quốc tế với các quy định của nội luật, cải thiện năng lực thực thi trên các lĩnh vực.
Hiến pháp năm 2013 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 đề cao việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; các luật mới ban hành có một số quy định mới liên quan đến hợp tác quốc tế trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù như Luật Thi hành án hình sự năm 2019 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025). Do đó, yêu cầu sửa đổi, bổ sung các quy định về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù để bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật là cần thiết.
Việt Nam là thành viên của ba điều ước quốc tế đa phương có quy định về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù (Công ước quốc tế về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy, chất hướng thần năm 1988; Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000; Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003). Đồng thời, Việt Nam đã ký kết 23 hiệp định về chuyển giao người bị kết án phạt tù với các nước: Ba Lan (1993), Vương quốc Anh (2008), Ôx-trây-lia (2008), Hàn Quốc (2009), Thái Lan (2010), Hung-ga-ri (2013), Ấn Độ (2013), Liên bang Nga (2013), Séc (2017), Tây Ban Nha (2014), Xri Lan-ca (2014), Căm-pu-chia (2016), Mông Cổ (2018), Nhật Bản (2019), Mô-dăm-bích (2019); Lào (2020); I-ran (2023); Áchen-ti-na (2023); I-ta-li-a (2023); Ca-dắc-xtan (2023); Các tiểu Vương quốc Ả - rập Thống nhất (2023); Trung Quốc (2023); Ma-rốc (2025). Qua rà soát thấy một số điều khoản về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù trong Luật TTTP còn một số nội dung chưa thực sự phù hợp với quy định trong các hiệp định này (về điều kiện chuyển giao, kinh phí, quá cảnh người bị kết án, xem xét lại bản án...). Vì vậy, việc ban hành Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù sẽ góp phần tạo điều kiện thực hiện tốt các cam kết, nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam, tạo nền tảng ký kết các điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; qua đó, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
2. Cơ sở thực tiễn
Qua 16 năm triển khai thực hiện Luật TTTP, quy định về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù trong Luật TTTP và hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập như sau:
Thứ nhất, Luật TTTP điều chỉnh chung cả bốn lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù nhưng mỗi lĩnh vực lại có đối tượng, phạm vi điều chỉnh với tính chất đặc thù riêng, mục đích và nguyên tắc hợp tác khác nhau.
Thứ hai, chủ thể yêu cầu, chủ thể thực hiện, trình tự, thủ tục, thời gian thực hiện các yêu cầu TTTP trong từng lĩnh vực hoàn toàn độc lập và khác nhau.
Thứ ba, từ phương diện quản lý nhà nước, Luật TTTP quy định giao Bộ Tư pháp làm đầu mối giúp Chính phủ quản lý nhà nước chung nhưng như trên đã đề cập mỗi lĩnh vực có đặc thù, nguyên tắc riêng, thẩm quyền, trình tự, thủ tục độc lập dẫn đến thực tiễn việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan gặp bất cập, vướng mắc.
Thứ tư, hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật TTTP được thực hiện chủ yếu thông qua các điều ước quốc tế. Hiện nay việc ký kết các điều ước quốc tế về TTTP được tách riêng từng lĩnh vực độc lập, không điều chỉnh đa lĩnh vực như trước đây. Việc tách Luật TTTP, giao nhiệm vụ cơ quan đầu mối trong từng lĩnh vực cũng phù hợp với công tác ký kết và tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế mà các bộ, ngành đang chủ trì.
Thứ năm, Luật TTTP hiện hành chưa quy định cụ thể, toàn diện các vấn đề liên quan đến chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Do vậy, cần được quy định trong luật một cách cụ thể, chi tiết. Việc thiếu các quy định điều chỉnh các quan hệ xã hội trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đã làm giảm hiệu quả hợp tác quốc tế trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù trong thời gian qua.
Thứ sáu, Luật TTTP được ban hành cách đây 16 năm nên một số quy định không còn phù hợp với các quy định của một số luật mới ban hành.
Thứ bảy, Luật TTTP quy định TTTP nói chung và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù nói riêng được thực hiện trên cơ sở điều ước quốc tế. Trường hợp không có điều ước quốc tế thì áp dụng nguyên tắc có đi có lại và pháp luật trong nước. Chính vì vậy, sự phù hợp giữa quy định của pháp luật trong nước và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên là rất quan trọng. Điều này có ảnh hưởng đến việc ký kết và thực hiện điều ước quốc tế. Tuy nhiên, qua rà soát nhận thấy một số quy định của Luật TTTP không phù với pháp luật và thông lệ quốc tế, các hiệp định về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù mà Việt Nam đã ký kết.
Do đó, để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thi hành Luật TTTP và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra hiện nay, việc xây dựng, ban hành Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là cần thiết.
II. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT CHUYỂN GIAO NGƯỜI ĐANG CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ NĂM 2025
1. Bố cục
Ngày 26/11/2025, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026) thay thế quy định về chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù của Luật TTTP. Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù gồm 4 chương, 48 điều; trong đó, xây dựng mới 18 điều, sửa đổi, bổ sung nội dung 14 điều, bỏ 05 điều so với quy định của Luật TTTP trong lĩnh vực chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
2. Những nội dung cơ bản
Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, bao gồm quan hệ giữa các cơ quan nhà nước Việt Nam với nhau, quan hệ giữa cơ quan nhà nước Việt Nam với cơ quan nước ngoài, quan hệ giữa phạm nhân người nước ngoài với cơ quan nhà nước Việt Nam... Theo đó, Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù xác định phạm vi điều chỉnh như sau: “Luật này quy định nguyên tắc, thẩm quyền, điều kiện, trình tự, thủ tục chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việt Nam trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù”.
Thứ hai, về đối tượng áp dụng.
Do đặc thù quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù nêu tại Điều 1 nên Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù xác định đối tượng áp dụng như sau: “Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam, cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài”.
Đối tượng áp dụng chủ yếu của Luật này là các cơ quan hành chính - tư pháp của Việt Nam (Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân các cấp, Viện kiểm sát nhân dân các cấp), phạm nhân người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam và công dân Việt Nam đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài.
Thứ ba, về việc áp dụng pháp luật và nguyên tắc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là một hoạt động cụ thể của hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự nên chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù có các nguyên tắc chung của hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự được quy định tại Điều 492 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2020, 2025). Bên cạnh đó, do tính chất nhân đạo đặc thù nên hoạt động chuyển giao người người đang chấp hành án phạt tù còn phải tuân thủ nguyên tắc đặc thù đó là: “Tôn trọng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người đang chấp hành án phạt”. Nguyên tắc này được thể hiện trong nhiều quy định của Luật, trong đó quan trọng nhất là quy định việc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù phải có sự đồng ý của người đang chấp hành án phạt tù; trường hợp người đang chấp hành án phạt tù là người chưa thành niên, người không có khả năng bày tỏ sự đồng ý với việc chuyển giao vì lý do tuổi tác, tình trạng sức khỏe và trạng thái tinh thần thì phải có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp.
Thứ tư, về cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
Nội dung này mới so với quy định của Luật TTTP năm 2007. Ngoài ra, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2020, 2025) và Luật Công an nhân dân năm 2018 (sửa đổi, bổ sung năm 2023) chỉ quy định Bộ Công an là Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù mà không quy định vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan trung ương. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 65 của Luật TTTP năm 2007 thì Bộ Công an vẫn tiến hành các nhiệm vụ nêu trên. Để có căn cứ pháp lý rõ ràng, Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù quy định cụ thể hơn về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
Thứ năm, về kinh phí bảo đảm công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
Tương tự như Luật TTTP, Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù quy định ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Tuy nhiên, Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù có quy định mới, cho phép người đang chấp hành án phạt tù, người đại diện hợp pháp của người đó, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thể tự nguyện đóng góp, hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần chi phí sinh hoạt, đi lại và chi phí khác của người đang chấp hành án phạt tù được chuyển giao theo quy định của pháp luật. Chính phủ sẽ quy định chi tiết về các trường hợp chi, mục chi, mức chi, cơ quan tiếp nhận, thủ tục tiếp nhận…
Thứ sáu, về thẩm quyền quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam.
Để phù hợp với quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Điều 14 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù quy định về thẩm quyền quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam như sau: “Tòa án nhân dân khu vực nơi thường trú cuối cùng tại Việt Nam của người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài được đề nghị chuyển giao có thẩm quyền quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam. Trường hợp không xác định được nơi thường trú cuối cùng tại Việt Nam của người được đề nghị chuyển giao hoặc người được đề nghị chuyển giao không thường trú tại Việt Nam thì Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội có thẩm quyền quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam”.
Theo quy định của Luật TTTP năm 2007 thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam. Ngoài ra, Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù bổ sung quy định trường không xác định được nơi thường trú cuối cùng tại Việt Nam của người được đề nghị chuyển giao hoặc người được đề nghị chuyển giao không thường trú tại Việt Nam thì Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội có thẩm quyền quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam.
Thứ bảy, về điều kiện tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam.
Các điều kiện tại Điều 15 Luật chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù cơ bản kế thừa quy định về các điều kiện tại Điều 15 của Luật TTTP năm 2007. Tuy nhiên, có một số điểm mới sửa đổi, bổ sung sau đây:
Một là, bỏ điều kiện người đang chấp hành án phạt tù phải có nơi thường trú cuối cùng ở Việt Nam;
Hai là, trong trường hợp đặc biệt, thời hạn chưa chấp hành án phạt tù phải còn có thể ít hơn 01 năm chứ không phải còn lại ít nhất 06 tháng. Để có thể áp dụng quy định này, Luật giao Chính phủ quy định cụ thể các trường hợp đặc biệt như người mắc bệnh nặng, phụ nữ đang mang thai, người cao tuổi, người chưa thành niên…;
Ba là, bổ sung quy định trường hợp người đang chấp hành án phạt tù là người chưa thành niên, người không có khả năng bày tỏ sự đồng ý với việc chuyển giao vì lý do tuổi tác, tình trạng sức khỏe và trạng thái tinh thần thì phải có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp.
Thứ tám, về việc hủy quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
Quy định này khắc phục “khoảng trống” của Luật TTTP.
Thứ chín, về việc bàn giao người được chuyển giao.
Việc bàn giao người là thủ tục cuối cùng của hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam là Bộ Công an và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài sẽ thống nhất thời gian và địa bàn giao (thường là tại sân bay quốc tế trên lãnh thổ Việt Nam). Chính phủ được giao nhiệm vụ quy định cụ thể về trình tự, thủ tục bàn giao.
Thứ mười, xem xét lại bản án đã tuyên đối với người được chuyển giao.
Thực tiễn công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù cho thấy chỉ nước tuyên án mới có các thông tin, tài liệu, chứng cứ cần thiết để xem xét lại bản theo trình tự, thủ tục đặc biệt (giám đốc thẩm, tái thẩm). Quy định này cũng phù hợp với pháp luật các nước và các điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù mà Việt Nam là thành viên.
Xem nội dung Luật Chuyển giao người chấp hành án phạt tù 2025 tại đây hoặc File đính kèm./.
Tác giả: Hải Yến
Ý kiến bạn đọc
Công an tỉnh Vĩnh Long Thông báo tuyển sinh đào tạo đại học Văn bằng 2 (VB2CA) chính quy tuyển mới trong Công an nhân dân năm 2026
Khởi tố, bắt tạm giam đối tượng chống người thi hành công vụ và gây rối trật tự công cộng
Vĩnh Long: 73 chiến sĩ nghĩa vụ tham gia CAND được chuyển sang chế độ phục vụ chuyên nghiệp
Lời ăn năn, hối hận sau phiên xét xử
Tuyên án bị cáo lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
Khởi tố, bắt tạm giam đối tượng lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
Thi hành hành lệnh bắt và khám xét nơi ở của đối tượng “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”
Công an tỉnh Vĩnh Long tổ chức Lễ công bố quyết định thăng cấp bậc hàm đợt I năm 2026
Tạm giữ hình sự người điều khiển xe ô tô tông hai người đang dừng chờ đèn đỏ tử vong
Đại tá Trần Quốc Phục dự Lễ khánh thành Chánh điện và Kiết giới Si Ma chùa Sleng Cũ, xã Tập Sơn, tỉnh Vĩnh Long