
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT DẪN ĐỘ
1. Xuất phát từ thể chế hóa quan điểm của Đảng về công tác dẫn độ
Luật Dẫn độ được xây dựng nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước ta về hội nhập quốc tế, cải cách pháp luật, cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền, đảm bảo quyền con người trong lĩnh vực tư pháp, gần đây là Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, trong đó xác định một trong những định hướng chủ yếu của hội nhập quốc tế là tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác quốc tế trong lĩnh vực xây dựng và thực thi pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp… tăng cường tính tương thích giữa các cam kết, thỏa thuận quốc tế với các quy định của nội luật, cải thiện năng lực thực thi trên các lĩnh vực.
2. Xuất phát từ việc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật
Để triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) nhà nước ta đã ban hành nhiều bộ luật, luật có liên quan đến công tác dẫn độ như: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025), Luật Thi hành án hình sự năm 2019, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015... Trong khi đó các văn bản điều chỉnh công tác dẫn độ đa số được ban hành trước thời điểm ban hành các văn bản này. Do đó, yêu cầu sửa đổi, bổ sung các quy định về dẫn độ để bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật là cần thiết.
3. Xuất phát từ yêu cầu để giải quyết những tồn tại, khó khăn trong quá trình thực hiện quy định về dẫn dộ của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007
Thứ nhất, Luật TTTP điều chỉnh chung cả bốn lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù nhưng mỗi lĩnh vực lại có đối tượng, phạm vi điều chỉnh với tính chất đặc thù riêng, mục đích và tính chất, nguyên tắc hợp tác khác nhau.
Thứ hai, chủ thể yêu cầu, chủ thể thực hiện, trình tự, thủ tục, thời gian thực hiện các yêu cầu TTTP trong từng lĩnh vực hoàn toàn độc lập và khác nhau.
Thứ ba, từ phương diện quản lý nhà nước, Luật TTTP quy định giao Bộ Tư pháp làm đầu mối giúp Chính phủ quản lý nhà nước chung cũng làm cho công tác quản lý nhà nước, phối hợp liên ngành trong triển khai thi hành Luật nhưng như trên đã đề cập mỗi lĩnh vực có đặc thù, nguyên tắc riêng, trình tự, thủ tục độc lập dẫn đến thực tiễn việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của các cơ quan gặp bất cập, hạn chế.
Thứ tư, hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật TTTP được thực hiện chủ yếu thông qua các điều ước quốc tế.
Thứ năm, một số quy định của Luật TTTP không còn phù hợp với các đạo luật mới trong lĩnh vực tư pháp được Quốc hội ban hành trong thời gian vừa qua khiến Luật TTTP còn thiếu gắn kết và chưa đồng bộ với pháp luật tố tụng trong nước, làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc giải quyết kịp thời các vụ việc dẫn độ.
Thứ sáu, Luật TTTP chưa phân định rõ phạm vi TTTP, dẫn đến cách hiểu và cách áp dụng chưa thống nhất giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như đối với hoạt động ủy thác tư pháp liên quan đến công dân Việt Nam ở nước ngoài hoặc yêu cầu cơ quan đại diện ngoại giao tại nước ngoài xác minh, cung cấp tài liệu và chứng cứ phục vụ điều tra.
Thứ bảy, Luật TTTP chưa đáp ứng yêu cầu mới do sự phát triển trong từng lĩnh vực TTTP, thiếu những quy định cụ thể phù hợp cho từng lĩnh vực. Một số quy định của Luật TTTP về dẫn độ chưa tương thích với pháp luật quốc tế, thông lệ quốc tế và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc chưa được nội luật hóa trong Luật TTTP, dẫn đến khó khăn trong việc triển khai tổ chức thực hiện.
II. BỐ CỤC VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT DẪN ĐỘ
1. Bố cục:
Luật Dẫn độ được Quốc hội khóa XV thông qua vào ngày 26/11/2025 tại Kỳ họp thứ 10. Luật Dẫn độ gồm 04 chương và 45 điều. Cụ thể như sau:
- Chương I (Những quy định chung) gồm 17 điều (từ Điều 1 đến Điều 17);
- Chương II (Dẫn độ từ nước ngoài về Việt Nam) gồm 08 điều (từ Điều 18 đến Điều 25);
- Chương III (Dẫn độ từ Việt Nam ra nước ngoài) gồm 18 điều (từ Điều 26 đến Điều 43);
- Chương IV (Điều khoản thi hành) gồm 02 điều (các điều 44 và 45).
2. Nội dung cơ bản của Luật Dẫn độ
Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh.
Điều 1 Luật Dẫn độ quy định nguyên tắc, thẩm quyền, điều kiện, trình tự, thủ tục thực hiện dẫn độ giữa Việt Nam với nước ngoài; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việt Nam trong dẫn độ.
- Về xác định giới hạn hoạt động, Luật Dẫn độ đảm bảo toàn bộ “vòng đời” của một vụ việc dẫn độ từ khi tiếp nhận yêu cầu đến khi bàn giao người đều được luật hóa minh bạch. Việc quy định rõ phạm vi giúp các cơ quan thực thi hiểu đúng giới hạn quyền hạn của mình, tránh vi phạm các cam kết quốc tế.
- Về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việt Nam trong dẫn độ, Luật Dẫn độ quy định rõ nghĩa vụ của từng cơ quan (như Bộ Công an, Tòa án, Viện kiểm sát) để tránh chồng chéo hoặc đứt gãy thông tin trong quá trình phối hợp quốc tế. Điểm mới lớn nhất là dẫn độ đã trở thành một Luật riêng biệt, không còn là một chương nằm trong Luật Tương trợ tư pháp 2007. Điều này cho thấy sự đầu tư chuyên sâu và tầm quan trọng của công tác dẫn độ trong tình hình tội phạm xuyên quốc gia gia tăng.
Thứ hai, về đối tượng áp dụng.
Dẫn độ không chỉ là việc giữa hai Nhà nước mà còn chạm đến quyền lợi của cá nhân (người bị dẫn độ) và trách nhiệm của các bên thứ ba (quốc gia thứ ba, hãng hàng không vận chuyển…). Do đó, cần quy định đối tượng áp dụng rộng rãi để tránh khoảng trống pháp lý. Dù là cá nhân, tổ chức Việt Nam hay nước ngoài, nếu có liên quan đến hoạt động dẫn độ trên lãnh thổ Việt Nam thì đều phải tuân thủ trình tự, thủ tục mà Luật này quy định. Việc đưa “cá nhân nước ngoài” vào đối tượng áp dụng giúp họ có căn cứ pháp lý để yêu cầu bảo đảm các quyền như quyền mời luật sư, quyền không bị tra tấn, ngược đãi theo pháp luật Việt Nam.
So với Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, Luật Dẫn độ có những điểm mới nhất định, cụ thể như sau:
- Xác định đối tượng rõ ràng hơn: Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 quy định đối tượng áp dụng khá chung chung trong chương về tương trợ tư pháp. Luật Dẫn độ tách riêng và nhấn mạnh vào nhóm “có liên quan đến dẫn độ”, giúp các chủ thể này dễ dàng nhận diện trách nhiệm của mình trong một đạo luật chuyên biệt.
- Tương thích với các Luật mới: Đối tượng áp dụng ở đây được đồng bộ hóa với Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và Luật Tương trợ tư pháp về hình sự (vừa được tách ra), tạo nên một hệ thống pháp luật về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự đồng bộ và không chồng chéo.
Thứ ba, về Áp dụng pháp luật và nguyên tắc dẫn độ.
Về áp dụng pháp luật, Luật Dẫn độ là luật chuyên ngành ưu tiên. Tuy nhiên, do dẫn độ liên quan mật thiết đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, áp dụng các biện pháp ngăn chặn và thi hành án, nên Luật cho phép dẫn chiếu sang các luật khác có liên quan như Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự.
Về nguyên tắc dẫn độ, các nguyên tắc này phù hợp với nguyên tắc trong hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, quy định tại Điều 492 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), trong đó nhấn mạnh các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và tính tối thượng của Hiến pháp Việt Nam; giúp ngăn chặn việc các nước lợi dụng dẫn độ để thực hiện các mục đích chính trị hoặc xâm phạm quyền lợi hợp pháp của công dân; giúp Việt Nam có thể yêu cầu dẫn độ tội phạm từ hầu hết các nước trên thế giới, miễn là chúng ta cam kết sẽ giúp đỡ họ tương tự (có đi có lại).
So với Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, Luật Dẫn độ có một số điểm đáng chú ý như sau:
- Xác định rõ thứ tự ưu tiên: Luật Dẫn độ quy định rõ ưu tiên áp dụng Luật Dẫn độ trước các luật khác có liên quan. Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 trước đây quy định chưa rõ ràng, gây khó khăn cho các điều tra viên khi thực hiện các biện pháp ngăn chặn đối với người bị dẫn độ.
- Luật Dẫn độ đưa “Tôn trọng độc lập, chủ quyền” lên hàng đầu và gắn chặt với “Hiến pháp Việt Nam”, thể hiện sự thận trọng và chặt chẽ hơn trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
Thứ tư, về Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về dẫn độ.
Bộ Công an sẽ là Cơ quan trung ương của Việt Nam về dẫn độ có trách nhiệm làm đầu mối trao đổi thông tin, tài liệu liên quan đến dẫn độ; hướng dẫn, lập, gửi và tiếp nhận hồ sơ yêu cầu dẫn độ; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xem xét, giải quyết yêu cầu dẫn độ của Việt Nam và của nước ngoài; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện dẫn độ; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật về dẫn độ và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
So với Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, Luật Dẫn độ có một số điểm mới đáng chú ý như sau:
- Khẳng định mạnh mẽ vai trò của Bộ Công an: Trước đây, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 giao Bộ Công an quản lý dẫn độ nhưng các quy định về “trách nhiệm chủ trì, phối hợp” còn mờ nhạt. Luật Dẫn độ đã “luật hóa” chi tiết các bước vận hành của Cơ quan trung ương.
- Tư duy quản lý hiện đại: Việc đưa nhiệm vụ “trao đổi thông tin, tài liệu” và “theo dõi, đôn đốc” vào Luật cho thấy sự chuyển dịch từ quản lý hành chính sang quản lý theo tiến độ và hiệu quả thực tế.
- Tách bạch với các lĩnh vực khác: Trong Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, Cơ quan trung ương về tương trợ tư pháp được chia cho Bộ Tư pháp (Dân sự) và Viện kiểm sát nhân dân (Hình sự). Việc Luật Dẫn độ xác định riêng Bộ Công an cho Dẫn độ giúp chuyên môn hóa sâu, không bị nhầm lẫn giữa các loại hình tương trợ.
Thứ năm, về các trường hợp có thể bị dẫn độ.
Việc đặt ra các quy định cho những trường hợp có thể bị dẫn độ vì một số lý do sau:
- Tính kinh tế và hiệu quả: Quy trình dẫn độ đòi hỏi sự phối hợp của nhiều bộ ngành, chi phí áp giải quốc tế cao. Do đó, Luật đặt ra “ngưỡng” hình phạt (01) năm tù hoặc 06 tháng chấp hành án) để đảm bảo việc dẫn độ là thực sự cần thiết, tránh lãng phí nguồn lực quốc gia cho những tội phạm ít nghiêm trọng.
- Tháo gỡ rào cản pháp lý: Hệ thống pháp luật mỗi nước mỗi khác (ví dụ: Việt Nam gọi là “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, nước khác có thể gọi là “Chiếm giữ tài sản bất hợp pháp”). Quy định “không nhất thiết phải giống nhau hoàn toàn” giúp các cơ quan thực thi dễ dàng hợp tác hơn, tránh việc đối tượng thoát tội chỉ vì sự khác biệt trong câu chữ pháp lý.
- Tránh chia cắt vụ án: Cho phép dẫn độ “gói” nhiều tội giúp cơ quan điều tra xử lý triệt để toàn bộ hành vi phạm tội của đối tượng trong một lần dẫn độ.
So với Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, Luật Dẫn độ có một số điểm đáng lưu ý sau:
- Làm rõ “Nguyên tắc tội phạm kép”: Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 quy định về tội phạm kép còn khá trừu tượng. Luật Dẫn độ đã giải thích rất cụ thể về việc không cần tương đồng hoàn toàn về yếu tố cấu thành. Đây là bước tiến lớn giúp nội luật hóa các tiêu chuẩn của Hiệp định dẫn độ mẫu của Liên hợp quốc.
- Bổ sung quy định về tội phạm xảy ra ngoài lãnh thổ: Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 không quy định rõ trường hợp này. Luật Dẫn độ bổ sung để phù hợp với thực tế các tội phạm công nghệ cao, tội phạm mạng hoặc tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia thường xảy ra từ bên ngoài lãnh thổ.
- Cơ chế đối xử bình đẳng: Luật Dẫn độ mới bổ sung nội dung Việt Nam cam kết thực hiện tương tự cho nước ngoài nếu nước đó giúp mình, thể hiện tinh thần hợp tác quốc tế chủ động.
Thứ sáu, về thông báo liên quan đến hình phạt tử hình đối với người bị yêu cầu dẫn độ.
Điều luật này được xây dựng nhằm giải quyết “nút thắt” lớn nhất trong pháp luật quốc tế về dẫn độ: Sự khác biệt về quan điểm đối với hình phạt tử hình giữa Việt Nam và các quốc gia đã bãi bỏ hình phạt này.
Việc đưa ra thông báo liên quan đến hình phạt tử hình nhằm đáp ứng các vấn đề sau:
- Triển khai thực hiện có hiệu quả các điều ước quốc về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên có quy định về việc cam kết không áp dụng án tử hình hoặc tuyên tử hình nhưng sẽ không thi hành hình phạt tử hình đối với người bị yêu cầu dẫn độ (như Điều 70 Hiệp định TTTP và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình, lao động và hình sự giữa CHXHCN Việt Nam và Cộng hòa Bê-la-rút, Điều 1 Nghị định thư bổ sung Hiệp định giữa CHXHCN Việt Nam và Liên bang Nga về TTTP và pháp lý về dân sự và hình sự hay điểm d khoản 1 Điều 3 Hiệp định dẫn độ giữa CHXHCN Việt Nam và Ô-xtrây-li-a…).
- Tuân thủ quy định tại Điều 40 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025), điểm e khoản 1 Điều 367 BLTTHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), phù hợp với tư duy mới về xây dựng pháp luật.
- Thể hiện thiện chí của Việt Nam trong việc hợp tác trong lĩnh vực dẫn độ với tất cả các quốc gia trên thế giới trên cơ sở phù hợp với chính sách hình sự của Việt Nam; nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm; nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trong quan hệ ngoại giao thông qua thực hiện quả các cam kết quốc tế về phòng, chống tội phạm. Theo đó, một số quốc gia, đặc biệt là một số nước châu Âu không quy định hình phạt tử hình, do đó khi tiến hành xử lý các yêu cầu dẫn độ, các quốc gia này đều đề nghị Việt Nam cam kết không tuyên phạt tử hình hoặc tuyên phạt nhưng không thi hành đối với người phạm tội.
- Góp phần nâng cao hiệu quả công tác dẫn độ, hiệu quả công tác bắt giữ các đối tượng phạm tội bỏ trốn ra nước ngoài, tránh tình trạng bỏ lọt tội phạm, bảo đảm an ninh, trật tự, ổn định xã hội; bảo đảm tính nghiêm minh trong áp dụng, thực hiện pháp luật của Nhà nước pháp quyền, qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân đối với chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc truy bắt bằng được tội phạm bỏ trốn ra nước ngoài để trừng trị trước pháp luật. So với Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, Luật Dẫn độ có sửa đổi, bổ sung một số quy định mới như sau:
- Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 không có quy định rõ ràng về quy trình đưa ra các thông báo liên quan đến hình phạt tử hình, dẫn đến việc lúng túng trong xử lý các yêu cầu dẫn độ của Việt Nam gửi đến các quốc gia không áp dụng hình phạt tử hình, bên cạnh đó cũng gây ảnh hưởng không nhỏ trong quá trình đàm phán các hiệp định dẫn độ. Luật Dẫn độ đã phân định rõ các trường hợp cần đưa ra thông báo liên quan đến hình phạt tử hình.
- Bên cạnh đó, Luật Dẫn độ cũng đưa ra điểm hoàn toàn mới về thông báo liên quan đến hình phạt tử hình trên cơ sở ý kiến của Chủ tịch nước, gắn kết các quy trình, thủ tục dẫn độ với quyền hạn Hiến định của Chủ tịch nước (chỉ có Chủ tịch nước mới có quyền đưa ra quyết định liên quan đến việc ân giảm hình phạt tử hình), tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động dẫn độ.
- Ngoài ra, việc quy định về thông báo phải được đưa ra dưới hình thức văn bản cũng sẽ tạo ra cam kết quốc tế vững chắc, ràng buộc hai Bên trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình.
Xem nội dung Luật Dẫn độ tại đây hoặc File đính kèm./.
Tác giả: Hải Yến
Ý kiến bạn đọc
Công an tỉnh Vĩnh Long Thông báo tuyển sinh đào tạo đại học Văn bằng 2 (VB2CA) chính quy tuyển mới trong Công an nhân dân năm 2026
Khởi tố, bắt tạm giam đối tượng chống người thi hành công vụ và gây rối trật tự công cộng
Vĩnh Long: 73 chiến sĩ nghĩa vụ tham gia CAND được chuyển sang chế độ phục vụ chuyên nghiệp
Lời ăn năn, hối hận sau phiên xét xử
Tuyên án bị cáo lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
Khởi tố, bắt tạm giam đối tượng lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
Thi hành hành lệnh bắt và khám xét nơi ở của đối tượng “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”
Công an tỉnh Vĩnh Long tổ chức Lễ công bố quyết định thăng cấp bậc hàm đợt I năm 2026
Tạm giữ hình sự người điều khiển xe ô tô tông hai người đang dừng chờ đèn đỏ tử vong
Đại tá Trần Quốc Phục dự Lễ khánh thành Chánh điện và Kiết giới Si Ma chùa Sleng Cũ, xã Tập Sơn, tỉnh Vĩnh Long